Ác mộng của Nhật Bản trong chiến tranh thế giới thứ 2

Nhật Bản trong chiến tranh thế giới thứ 2 đã trải qua “Cuộc chiến Thái Bình Dương” đầy đau đớn, từ phe chủ động bị đẩy vào thế bị động, thất bại thảm hại và phải “cúi mình” để mưu cầu hòa bình…Đây là một mảng tối trong lịch sử phát triển của “đất nước mặt trời mọc”.

“Giấc mộng Nhật Bản” trong cuộc chiến Thái Bình Dương

“Giấc mộng Nhật Bản” trong cuộc chiến Thái Bình Dương

Nhật Bản sau chiến tranh thế giới thứ nhất

Là nước thứ 2 sau Mỹ có được nhiều lợi nhuận từ cuộc chiến. Nhật Bản đã có nhiều thuận lợi để phát triển và đẩy mạnh nền kinh tế của đất nước. Những thành tự đạt được phải kể đến như:

Trong những năm đầu 1914 – 1919 nền công nghiệp nước này đã tăng gấp 5 lần so với trước, các loại hoàng hóa bắt đầu đẩy mạnh xuất khẩu ra các thị trường khác. Tuy nhiên nền nông nghiệp nước này lại không có dấu hiệu gì khởi sắc khi những tàn dư của chế độ phong kiến vẫn còn tồn tại ở các vùng nông thông tạo nên rào cản về sự phát triển.

Năm 1927 Nhật Bản lâm vào tình trạng khủng hoảng tài chính bởi sự gia tăng dân số một cách nhanh chóng, nguyện liệu sản xuất thiếu hiệu, sự mất cân bằng giữa công, nông nghiệp đã ảnh hưởng không nhỏ đến nền kinh tế Nhật Bản lúc bấy giờ

Ngoài ra Nhật Bản còn phải chịu những ảnh hưởng từ thiên tai như động đất, núi lửa, sóng thần…dẫn đến nền kinh tế bị suy thoái, đời sống người dân khó khăn, bùng phát các cuộc đấu tranh và đỉnh điểm là vụ bạo động lúa gạo diễn ra vào năm 1928. Trước tình hình trên Đảng cộng sản Nhật Bản đã được thành lập để dẫn dắt phong trào công nhân trong nước.

Xem thêm: Tại sao thiên tai tại Nhật thường xuyên diễn ra?

Nhật Bản trong chiến tranh thế giới thứ 2

Hậu quả nặng nề từ khủng hoảng kinh tế đã khiến giới chức Nhật Bản đưa ra nhiều chính sách nhằm cứu vãn tình thế, cụ thể là tăng cường chính sách quân sự hóa đất nước, gây chiến tranh xâm lược để bành trướng ra bên ngoài.

Tháng 9/1931 Nhật Bản tiến đánh Đông Bắc Trung Quốc, mở đầu cuộc xâm lược nước này với quy mô lớn đồng thời châm ngòi nổ cho chiến tranh thế giới thứ 2 tại Châu Á – Thái Bình Dương

Nhật Bản trong chiến tranh thế giới thứ 2
Nhật Bản trong chiến tranh thế giới thứ 2

Diễn biến cuộc chiến của người Nhật

Tại mặt trận Thái Bình Dương, Nhật Bản là bên “châm ngòi” với trận Trân Châu cảng do Thủy sư đô đốc Issoku Yamamoto lên kế hoạch. Cụ thể, vào tháng 4/1941, kế hoạch của Yamamoto chính thực được mang mật danh là “Chiến dịch Z”.

Từ đêm 18/11, bốn đội tàu ngầm lần lượt xuất phát tiến về phía quần đảo Hawaii và đến 6h sáng ngày 26/11, toàn bộ lực lượng đặc nhiệm của Z đã nhổ neo bước vào chiến dịch.

Đúng 7h53p, thời khắc chuẩn bị cho trái bom đầu tiên xuống Chân Trâu Cảng đã hoàn tất. Tấn công vào Trân Châu cảng, quân Nhật đã chính thức gây chiến trên mặt trận Thái Bình Dương.

Từ đó, Nhật lần lượt đánh chiếm Mã Lai, Thái Lan, Singapore, Hong Kong, Philippines, Miến Điện… Vào giữa tháng 3/1942, Nhật Bản đã giành thắng lợi trên nhiều chiến trường ở Đông Nam Á.

Bước ngoặt lịch sử và dấu hiệu thất bại

Đến đầu tháng 5/1942, “chiến dịch MO” do Phó Đô đốc Shigeyoshi Inoue chỉ huy bắt đầu được thực hiện nhằm đánh chiếm hải cảng Moresby trên bờ nam đảo Guinea, thuộc biển San Hô, thế nhưng, tại chiến dịch này, Nhật đã “không gặp may”.Lần đầu tiên kể từ Trân Châu Cảng, một cuộc tiến công của Nhật đã bị đánh bại. Đây chính là những báo hiệu cho sự bại trận sau này của Đế quốc quân phiệt Nhật.

Tiếp đó, sự thất bại của trận đánh Midway đã khiến Hải quân Hoàng gia mất đi “quả đấm thép”. “Người Mỹ bảo vệ được “con đê” của họ, giữ được quyền kiểm soát Thái Bình Dương và từ nay không lùi bước nữa”.

Thất bại thảm hại và “cúi mình” cầu hòa bình

hậu quả thảm khốc sau chiến tranh của người Nhật

Nối tiếp thất bại, trong trận hải chiến ở vùng biển Maroama, hạm đội cơ động Nhật mất 92% số máy bay, chìm ba tàu sân bay và 50% số máy bay của đảo Guam bị phá hủy.

Trước tình thế tuyệt vọng này, những sĩ quan tham mưu của Nhật đều quyết định harakiri (mổ bụng tự sát – truyền thống của Samurai Nhật Bản khi thua trận).

Ngày 7/7/1944, hơn 3000 người Nhật, gồm binh lính và thường dân, với đủ loại vũ khí, từ súng trường, súng lục đến gươm, gậy tre vót nhọn xông lên bờ biển tiến công các hậu cứ quân Mỹ. Trong số gần 30.000 dân Nhật sống trên đảo, “có khoảng 22.000 người tự sát tập thể bằng cách đứng từ trên các mỏm núi cao nhảy xuống biển”.

Nhật Bản đã bại trận, nhưng vẫn ngoan cố trên khắp các mặt trận, với những cuộc chiến tranh đau thương, gây tổn thất nặng nề cả về người và của.

Tình hình đen tối này đã buộc Nhật hoàng phải đưa quyết định “mưu cầu hòa bình” nhằm cứu đất nước Nhật khỏi thảm họa diệt vong.

Thảm họa bom nguyên tử và dấu chấm hết cho người Nhật

Thảm họa bom nguyên tử và dấu chấm hết cho người Nhật

Khi hội nghị thượng đỉnh ở Potsdam đã đưa ra bản “Tuyên cáo Potsdam”, yêu cầu Nhật Bản đầu hàng vô điều kiện, Nhật Bản bị đặt ra vào tình thế buộc phải lựa chọn. Tiếp đó, ngày 6/8/1945, Mỹ thả bom nguyên tử xuống thành phố Hiroshima đã khiến Nhật Bản sụp đổ. Người dân Nhật khóc than trong đống hoang tàn đổ nát. Sức chịu đựng đã đi đến giới hạn cuối cùng. Người chết chồng lấp lên nhau, người sống còn chưa thể tin vào cơn ác mộng vừa trải qua.

Tình hình Nhật Bản sau chiến tranh thế giới thứ 2

Sau chiến tranh, nước Nhật hoàn toàn kiệt quệ. Nền kinh tế lâm vào cảnh khủng hoảng, tổn thất về người và của lớn chưa từng thấy. Thất nghiệp, thiếu thốn lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng, lạm phát tăng nhanh. Sản xuất công nghiệp chỉ còn ¼ so với trước chiến tranh và phải nhận viện trợ từ Mỹ dưới hình thức vay nợ để phục hồi nền kinh tế.

Tình hình Nhật Bản sau chiến tranh thế giới thứ 2

Lãnh thổ bị nước ngoài chiếm đóng, nằm dưới chế độ quân quản của Mỹ, cùng với đó là một loạt chính sách dân chủ được tiến hành như ban hiến pháp, cải cách ruộng đất, xóa bỏ chủ nghĩa quân phiệt, giải tán lực lượng vũ trang… Những chính sách này đã mang một làn gió mới đến với người dân Nhật Bản cũng như thúc đẩy sự phát triển kinh tế của đất nước.

Năm 1945-1950 đánh dấu thời kỳ phục hồi kinh tế tuy nhiên do còn lệ thuộc vào Mỹ nên sự phát triển còn chậm chạp và chưa có đột phá nhất định. Bắt đầu từ những năm 70 trở đi nền kinh tế nước này mới phát triển mạnh mẽ. Nhật Bản vươn lên trở thành một trong 3 trung tâm kinh tế – tài chính lớn của thế giới

Coi trọng việc phát triển kinh tế, xã hội, thúc đẩy khoa học kỹ thuật, phát triển thêm các cơ sở nghiên cứu đồng thời mua các phát minh từ bên ngoài về tham khảo. Kết hợp với đó là chính sách đối nội, đối ngoại được cải thiện đáng kể, trở thành đồng minh của Mỹ.

Có thể thấy hậu quả từ chiến tranh để lại là vô cùng to lớn và khắc nghiêt, tuy nhiên nhờ có ý chí kiên cường cùng tinh thần dân tộc cao, người Nhật đã từng bước khắc phục khó khăn, đưa quốc gia của mình sánh ngang thậm chí là vượt qua cả các cường quốc trên thế giới. Trên đây là những thông tin về tình hình đất nước Nhật Bản trong cuộc chiến tranh thế giới thứ 2. Bài viết hi vọng mang lại thông tin hữu ích cho bạn đọc.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *